Có ba tình huống người trông trẻ cần gọi 115 hoặc đưa trẻ đi viện ngay mà không chờ ba mẹ quyết: trẻ co giật, trẻ khó thở, và trẻ có dấu hiệu dị ứng nặng như sưng môi, sưng mặt, nổi mề đay lan nhanh kèm khó thở hoặc nôn nhiều. Khi trẻ co giật, đặt trẻ nằm nghiêng trên mặt phẳng an toàn, dẹp đồ cứng xung quanh, không nhét gì vào miệng, không ghì chặt tay chân, và nhìn đồng hồ để biết cơn kéo dài bao lâu. Khi trẻ khó thở, giữ trẻ ở tư thế trẻ thấy dễ thở nhất, thường là ngồi, và gọi 115.
Người trông không chẩn đoán và không tự cho thuốc, trừ thuốc cấp cứu đã được bác sĩ kê cho chính trẻ và ba mẹ đã hướng dẫn cách dùng. Bài này giúp bảo mẫu, cô nuôi và chủ nhóm trẻ nhận ra ba tình huống nguy cấp nhất, biết làm gì trong lúc chờ xe, những việc dân gian hay làm nhưng nguy hiểm, và cách báo ba mẹ.
Co giật ở trẻ: trông đáng sợ nhưng cần làm đúng vài việc
Co giật là khi trẻ đột ngột mất ý thức, mắt trợn ngược hoặc nhìn chằm chằm, tay chân co cứng rồi giật từng nhịp, có khi sùi bọt mép, môi tím, tiểu ra quần. Ở trẻ khoảng từ 6 tháng đến 5 tuổi, kiểu hay gặp nhất là co giật do sốt, xảy ra khi thân nhiệt tăng nhanh, thường trong ngày đầu của một đợt ốm. Phần lớn cơn co giật do sốt ngắn, tự hết sau vài phút và không để lại hậu quả lâu dài, theo nhiều tài liệu nhi khoa. Tuy vậy, người trông không thể tự biết đây là co giật do sốt đơn thuần hay do nguyên nhân khác nghiêm trọng hơn.
Co giật cũng có thể do động kinh, chấn thương đầu, ngộ độc, hạ đường huyết, nhiễm trùng thần kinh. Vì vậy với người trông, mọi cơn co giật đều là tình huống cần nhân viên y tế đánh giá. Trẻ đã được chẩn đoán động kinh và có kế hoạch xử lý của bác sĩ thì làm theo kế hoạch đó, ba mẹ phải đưa bằng văn bản và hướng dẫn trực tiếp.
Điều quan trọng nhất trong lúc trẻ co giật là giữ trẻ khỏi bị thương thêm và giữ đường thở thông. Người trông không thể làm cơn giật dừng lại bằng tay, nên đừng cố. Bình tĩnh, nhìn đồng hồ, làm các bước ở mục dưới.
Trong và sau cơn co giật: các bước
Theo hướng dẫn sơ cứu co giật phổ biến của các tổ chức y tế:
- Đặt trẻ nằm xuống sàn hoặc mặt phẳng rộng, dẹp đồ vật cứng, sắc xung quanh. Kê vật mềm mỏng dưới đầu nếu có.
- Nghiêng trẻ sang một bên để nước bọt, chất nôn chảy ra ngoài, không chảy vào đường thở.
- Nới lỏng quần áo ở cổ. Không ghì chặt tay chân trẻ.
- Không nhét bất cứ thứ gì vào miệng trẻ: không ngón tay, không thìa, không khăn, không đũa. Trẻ không "cắn đứt lưỡi" như lời đồn, còn vật nhét vào có thể làm gãy răng, rách miệng, gây hóc.
- Nhìn đồng hồ ghi giờ bắt đầu. Nếu có người thứ hai, nhờ quay một đoạn video ngắn; bác sĩ thường cần biết cơn giật trông như thế nào.
- Gọi 115 ngay nếu: cơn kéo dài quá 5 phút, đây là lần co giật đầu tiên của trẻ, trẻ khó thở hoặc tím tái sau cơn, cơn này nối tiếp cơn khác, trẻ không tỉnh lại sau cơn, trẻ bị thương trong lúc co giật, hoặc co giật sau va đập đầu, sau khi nghi nuốt phải thứ gì đó.
- Sau cơn, trẻ thường lừ đừ, buồn ngủ. Giữ trẻ nằm nghiêng an toàn, ở cạnh theo dõi nhịp thở, không cho ăn uống đến khi trẻ tỉnh hẳn.
- Báo ba mẹ ngay, kể giờ bắt đầu, thời gian kéo dài, trẻ có sốt không, trẻ trông thế nào trong cơn.
Nếu trẻ đang sốt, người trông có thể cởi bớt quần áo dày, để phòng thoáng. Không ủ ấm, không chườm đá, không lau cồn. Thuốc hạ sốt chỉ cho theo hướng dẫn của ba mẹ và bác sĩ, không cho vào miệng khi trẻ đang co giật hay chưa tỉnh hẳn.
Những việc dân gian hay làm khi trẻ co giật và vì sao không nên
Trong lúc hoảng, người xung quanh thường mách nhiều cách. Người làm nghề cần biết để từ chối nhẹ nhàng mà dứt khoát.
| Việc hay được mách | Vì sao không nên | Làm thay vào đó |
|---|---|---|
| Nhét đũa, thìa, khăn vào miệng | Gãy răng, rách miệng, gây hóc, cản đường thở | Để miệng trống, đặt nằm nghiêng |
| Ghì chặt tay chân cho hết giật | Không làm dừng cơn, có thể gây chấn thương | Dẹp đồ xung quanh, để trẻ giật tự do |
| Đổ nước, sữa, thuốc vào miệng | Trẻ không nuốt được, sặc vào phổi | Không cho gì vào miệng đến khi tỉnh hẳn |
| Chích máu đầu ngón tay, cạo gió | Không có tác dụng, gây đau, nhiễm trùng | Ghi giờ, gọi 115 khi cần |
| Bấm huyệt nhân trung thật mạnh | Gây tổn thương, mất thời gian | Theo dõi thở, đặt nằm nghiêng |
| Ngâm trẻ vào nước lạnh | Hạ thân nhiệt đột ngột, nguy cơ sặc | Cởi bớt áo dày, để phòng thoáng |
Một câu dùng được khi người nhà khách nài: "Bác sĩ dặn không cho gì vào miệng, chỉ để nằm nghiêng và gọi cấp cứu, mình làm đúng vậy nhé."
Nhận ra trẻ đang khó thở
Khó thở ở trẻ nhỏ không phải lúc nào cũng kèm tiếng thở rít to. Có những dấu hiệu người trông cần học cách nhìn, vì trẻ nhỏ không tự nói được "con khó thở":
- Thở nhanh hơn hẳn bình thường khi đang nằm yên, không phải do vừa chạy chơi.
- Rút lõm lồng ngực: phần da dưới xương sườn, giữa các xương sườn hoặc trên xương ức lõm vào mỗi lần hít.
- Cánh mũi phập phồng, đầu gật gù theo nhịp thở ở trẻ nhỏ.
- Thở rít khi hít vào, khò khè khi thở ra, hoặc rên ở cuối mỗi nhịp thở.
- Môi, quanh miệng, đầu ngón tay tím tái hoặc xám.
- Trẻ lớn không nói được thành câu, phải ngồi chống tay về trước để thở.
- Trẻ li bì, khó đánh thức, bỏ bú hoàn toàn, hoặc ngược lại kích thích vật vã.
Có những dấu hiệu này, người trông gọi 115 hoặc báo ba mẹ đưa trẻ đi viện ngay, không chờ hết giờ trông. Giữ trẻ ở tư thế trẻ thấy dễ thở nhất (thường là ngồi hoặc được bế đứng), không ép nằm. Trẻ có bệnh hen và có thuốc xịt theo đơn kèm hướng dẫn của ba mẹ thì dùng theo hướng dẫn và vẫn gọi 115 nếu không đỡ nhanh. Khó thở xuất hiện đột ngột khi đang ăn, đang chơi đồ nhỏ thì nghĩ tới hóc dị vật.
Dị ứng nặng: khi nổi mẩn không còn là chuyện nhỏ
Trẻ ăn phải món lạ, bị ong đốt hay vừa dùng thuốc rồi nổi vài nốt mẩn ngứa là chuyện có thể gặp. Nhưng nếu kèm theo một trong các dấu hiệu sau thì có thể là phản ứng dị ứng nặng, còn gọi là phản vệ, cần gọi 115 ngay: sưng môi, lưỡi, mặt, mí mắt; khàn tiếng, thở rít, ho liên tục, khó thở; nôn nhiều lần, đau bụng dữ dội; da tái, lạnh, trẻ lả đi, lơ mơ. Phản vệ có thể tiến triển trong vài phút sau khi tiếp xúc với thứ gây dị ứng.
Thức ăn hay gây dị ứng ở trẻ nhỏ gồm lạc và các loại hạt, trứng, sữa bò, hải sản, đậu nành, lúa mì, nhưng bất cứ món nào cũng có thể. Ở nhóm trẻ, nguy cơ đến từ việc trẻ ăn nhầm đồ ăn của bạn, đồ ăn vặt phụ huynh mang đến chia, hoặc bánh kẹo có thành phần ẩn. Vì vậy danh sách dị ứng của từng trẻ phải được tất cả người trông và người nấu biết, và nhóm có quy tắc rõ về đồ ăn mang từ ngoài vào.
Khi nghi phản vệ: gọi 115, ngừng ngay thứ nghi gây dị ứng (bỏ đồ ăn khỏi miệng, rút ngòi ong bằng cách gạt ngang). Trẻ khó thở thì cho ngồi; trẻ lả, tái thì cho nằm, kê cao chân; không cho trẻ đứng dậy đi lại đột ngột. Trẻ có bút tiêm dị ứng do bác sĩ kê và ba mẹ đã hướng dẫn cách dùng thì dùng ngay theo hướng dẫn, ghi giờ, vẫn gọi 115 vì triệu chứng có thể quay lại.
Chuẩn bị trước cho trẻ có bệnh nền hoặc dị ứng đã biết
Khi nhận một trẻ có tiền sử co giật, hen, dị ứng nặng, tim bẩm sinh hay bệnh mạn tính khác, người trông và chủ nhóm trẻ cần ngồi lại với ba mẹ trước ngày đầu tiên. Hỏi rõ: bệnh gì, dấu hiệu báo trước là gì, khi có dấu hiệu thì làm gì theo thứ tự nào, thuốc cấp cứu là gì, để ở đâu, dùng thế nào, khi nào gọi 115, bệnh viện nào đang theo dõi trẻ. Xin những hướng dẫn này bằng văn bản, có chữ ký ba mẹ.
Thuốc cấp cứu của trẻ phải luôn đi cùng trẻ: ở nhóm thì để chỗ cố định ai cũng biết, khi ra ngoài thì người trông mang theo. Kiểm tra hạn dùng mỗi tháng, nhắc ba mẹ thay trước khi hết hạn. Nếu người trông chưa được hướng dẫn cách dùng hoặc chưa tự tin, nói thẳng với ba mẹ và đề nghị được tập cùng nhân viên y tế.
Người trông cũng nên biết giới hạn của mình. Có những trẻ cần chăm sóc y tế mà một nhóm trẻ gia đình không đáp ứng an toàn được. Khi đó, thẳng thắn trao đổi với ba mẹ là trách nhiệm nghề nghiệp, không phải từ chối trẻ.
Báo ba mẹ và bàn giao sau một ca cấp cứu
Trong ba tình huống trên, người trông gọi 115 trước, rồi báo ba mẹ ngay khi có thể, thường là trong lúc chờ xe hoặc trên đường đến viện. Cuộc gọi đầu tiên nên ngắn và rõ: chuyện gì xảy ra, trẻ hiện thế nào, đang đưa trẻ đến bệnh viện nào. Không nói vòng vo hay trấn an quá mức, vì ba mẹ cần biết để đến thẳng bệnh viện.
Khi ba mẹ hoặc nhân viên y tế tiếp nhận, người trông kể lại theo thứ tự thời gian: trẻ đang làm gì, ăn gì, có sốt không, dấu hiệu đầu tiên lúc mấy giờ, cơn co giật kéo dài bao lâu, đã làm những gì, đã dùng thuốc cấp cứu nào lúc mấy giờ. Đưa thẻ thông tin khẩn cấp, vỏ thuốc, đồ ăn nghi gây dị ứng nếu còn giữ. Video ngắn quay cơn co giật, nếu có, gửi riêng cho ba mẹ để đưa bác sĩ xem, không chia sẻ cho ai khác.
Sau đó, ghi lại toàn bộ vào sổ sự cố trong ngày. Với nhóm trẻ, chủ nhóm báo ngắn gọn cho ba mẹ các trẻ khác nếu các trẻ có chứng kiến sự việc, không nêu chi tiết sức khoẻ của trẻ bị nạn, để ba mẹ biết mà trò chuyện với con khi về nhà.
Câu hỏi thường gặp
Trẻ co giật do sốt có cần đi viện không nếu cơn đã hết?
Lần co giật đầu tiên luôn cần được bác sĩ khám để tìm nguyên nhân. Những lần sau, ba mẹ làm theo kế hoạch bác sĩ đã dặn. Người trông báo ba mẹ ngay sau mọi cơn co giật và gọi 115 nếu cơn kéo dài quá 5 phút, trẻ khó thở hoặc không tỉnh lại.
Vì sao không được nhét gì vào miệng trẻ đang co giật?
Trẻ co giật không nuốt lưỡi hay cắn đứt lưỡi như lời đồn. Vật nhét vào miệng có thể làm gãy răng, rách miệng, gây tắc đường thở, còn ngón tay người lớn có thể bị cắn rất đau. Đặt trẻ nằm nghiêng là cách giữ đường thở thông tốt nhất.
Làm sao biết trẻ nổi mẩn là dị ứng nhẹ hay nặng?
Mẩn ngứa khu trú, trẻ vẫn chơi, thở bình thường thì thường là nhẹ, người trông báo ba mẹ và theo dõi. Nếu kèm sưng môi mặt, khó thở, khàn tiếng, nôn nhiều, lả đi thì coi là nặng và gọi 115 ngay. Không chờ xem có tự đỡ không.
Trẻ thở nhanh khi đang sốt có phải khó thở không?
Sốt có thể làm trẻ thở nhanh hơn. Nhưng nếu kèm rút lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, tím tái, thở rít hoặc trẻ li bì thì đó là dấu hiệu khó thở thật sự, cần đi viện ngay. Không chắc thì báo ba mẹ đưa đi khám.
Bảo mẫu có được dùng bút tiêm dị ứng cho trẻ không?
Được, nếu bút tiêm do bác sĩ kê cho chính trẻ, ba mẹ đồng ý bằng văn bản và đã hướng dẫn hoặc nhờ nhân viên y tế hướng dẫn cách dùng. Sau khi tiêm vẫn gọi 115 ngay, ghi giờ tiêm và đưa vỏ bút cho nhân viên cấp cứu.
Trẻ co giật khi người trông chỉ có một mình với nhiều trẻ thì làm sao?
Đặt trẻ co giật nằm nghiêng an toàn, gọi to nhờ hàng xóm hoặc bật loa ngoài gọi 115. Cho các trẻ khác ngồi tại chỗ trong tầm mắt, nếu có trẻ lớn thì nhờ ngồi cạnh em. Đây là lý do nhóm trẻ nên có ít nhất hai người lớn và biết sẵn hàng xóm có thể gọi.